Thuê xã hội đen đòi nợ có được pháp luật bảo vệ

Câu hỏi: Tôi có vay của bên vay tài chính với lãi suất 3.000đ/ngày, hiện tôi mỗi tháng tôi chỉ trả được 3 triệu trừ vào gốc, nay bên tôi vay chuyển số nợ này "xã hội đen", vậy trong trường hợp này tôi có được luật pháp bảo vệ không? Và bên cho thuê tài chính làm như vậy có đúng với quy định của pháp luật không?

Trả lời:

Từ những thắc mắc của bạn chúng tôi đưa ra ý kiến pháp lý như sau:

Biện pháp thu hồi nợ | Điều kiện thu hồi nợ | Bảng giá thu hồi nợ

Thứ nhất: Về việc ủy quyền cho người khác đòi nợ.

Theo Điều 4 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP về kinh doanh dịch vụ đòi nợ quy định:

" Điều 4. Nguyên tắc hoạt động dịch vụ đòi nợ

1. Chỉ những doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ đòi nợ mới được phép hoạt động dịch vụ đòi nợ.

2. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ không được kinh doanh các ngành, nghề và dịch vụ khác ngoài dịch vụ đòi nợ.

3. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ được thực hiện các biện pháp xử lý nợ phù hợp với quy định của pháp luật.

4. Hoạt động dịch vụ đòi nợ thực hiện theo hợp đồng ủy quyền được ký kết giữa chủ nợ hoặc khách nợ với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong phạm vi quyền được pháp luật công nhận."

Như vậy, bên vay tài chính có thể ủy quyền việc đòi nợ cho Công ty Đòi nợ là hoàn toàn hợp pháp. Tuy nhiên, nếu bên được ủy quyền chỉ được thực hiện công việc được giao, tức là công việc đòi nợ, bên cạnh đó Điều 4 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP Về kinh doanh dịch vụ đòi nợ cũng quy định: "Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ được thực hiện các biện pháp xử lý nợ phù hợp với quy định của pháp luật", vì vậy, nếu bên được ủy quyền đòi nợ có hành vi cưỡng đoạt tài sản hoặc các thủ đoạn khác nhằm ép buộc bạn trả nợ tức là đã có hành vi vi phạm pháp luật, lúc này bạn sẽ được pháp luật bảo vệ quyền lợi của mình.

Thứ hai: Về việc cho vay với lãi suất 3%/ngày

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lãi suất như sau:

"1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Như vậy, việc thỏa thuận mức lãi suất 3%/ngày trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên. Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Như vậy, chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 13,5%/năm. Hiện tại, nếu bạn và bên cho vay tài chính không thống nhất với nhau được về mức lãi suất, bạn có thể khởi kiện ra Tòa dân sự.

Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm".

Thành lập doanh nghiệp trọn gói | Tư vấn PL hình sự | Tư vấn lĩnh vực hôn nhân và gia đình | Tư vấn xin giấy phép an toàn vệ sinh thực phẩm | Dịch vụ làm sổ đỏ | Dịch vụ kế toán Doanh nghiệp trọn gói

Thứ 3: Liệu bạn thuê xã hội đen để đòi nợ có được pháp luật bảo vệ hay không?

Như đã phân tích ở trên, việc cho vay nặng lãi và việc dùng các hành vi cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản để thu hồi nợ là trái với quy định, lúc này bạn hoàn toàn được pháp luật bảo vệ dựa trên các quy định của pháp luật như sau:

Theo quy định tại điều 135 Bộ Luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì tội Cưỡng đoạt tài sản được quy định như sau:

“1.  Người nào đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm;

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm;

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

Như vậy, đặc trưng cơ bản của tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã có hành vi uy hiếp tinh thần của người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người có trách nhiệm về tài sản lo sợ mà phải giao tài sản cho người phạm tội. Đe doạ sẽ dùng vũ lực là việc sử dụng lời nói hoặc hành động làm cho người bị đe doạ sợ nếu không giao tài sản cho người phạm tội thì sẽ bị đánh đập tra khảo, bị đau đớn về thể xác… Thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần là những thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng ngoài việc đe doạ sẽ dùng vũ lực và thủ đoạn này đã uy hiếp tinh thần của người có tài sản hoặc của người có trách nhiệm về tài sản.

>>> Bài viết Quan tâm



Tin liên quan

QUẢNG CÁO

Facebook chat

Hotline: 0989 583 113